Hiển thị các bài đăng có nhãn newviethan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn newviethan. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2016

Vật liệu composite và ứng dụng trong sản xuất

Có thể thấy hiện nay nhu cầu sử dụng các sản phẩm thiết bị chất liệu tốt với những ưu điểm vượt trội luôn là đề tài quan tâm của nhiều người. Cách điện, cách âm tốt và tổng hợp những ưu điểm của cả nhựa và kim loại nên nhựa Composite đang dần thay thế các loại vật liệu khác trong xây dựng và công nghiệp
Vật liệu composite là gì?
Vật liệu composite, còn gọi là Vật liệu compozit hay composite là vật liệu tổng hợp từ hai hay nhiều vật liệu khác nhau tạo lên vật liệu mới có tính năng hơn hẳn các vật liệu ban đầu, khi những vật liệu này làm việc riêng rẽ.

Thành phần cấu tạo

cấu tạo nhựa composite
Cấu trúc tinh thể của vật liệu composite

Nhìn chung, mỗi vật liệu composite gồm một hay nhiều pha gián đoạn được phân bố trong một pha liên tục duy nhất. (Pha là một loại vật liệu thành phần nằm trong cấu trúc của vật liệu composite.) Pha liên tục gọi là vật liệu nền (matrix), thường làm nhiệm vụ liên kết các pha gián đoạn lại. Pha gián đoạn được gọi là cốt hay vật liệu tăng cường (reinforcement) được trộn vào pha nền làm tăng cơ tính, tính kết dính, chống mòn, chống xước...

Ưu điểm vượt trội của vật liệu composite
Nhựa composite kế thừa những ưu điểm của vật liệu nhựa thông thường và cả của kim loại như dẻo dai, dễ pha màu, dễ đóng khuôn tạo hình. Tuy nhiên, vật liệu composite còn tỏ ra ưu việt hơn rất nhiều khi mà chất lượng gia công của composite không thua kém gì với sắt thép – kim loại.
Nhựa composite bền màu và trơ với hầu hết các chất ăn mòn, ít bị oxi hóa nên vật liệu Composite được ứng dụng nhiều trong các ngành công nghiệp hóa chất để dùng làm thùng – bồn đựng hóa chất, thùng rác hay bọc bể chống ăn mòn…
Với ưu điểm dễ gia công, tạo hình, tạo màu giống như các sản phẩm nhựa Composite còn được dùng để làm các sản phẩm đồ gia dụng hay các vật liệu xây dựng như ống nước, mái che.
Không những thế do tính dẻo dai và chất lượng không kém gì kim loại mà lại nhẹ hơn rất nhiều nên
composite còn được dùng làm các thiết bị vệ sinh và vỏ bọc sản phẩm.
Ngoài ra, cách điện, cách âm tốt và tổng hợp những ưu điểm của cả nhựa và kim loại nên nhựa Composite 
đang dần thay thế các loại vật liệu khác trong xây dựng và công nghiệp.
Trộn hai vật liệu này với nhau theo một tỷ lệ nhất định, gia nhiệt rồi ép vào khuôn dưới áp suất cao là ta có được vật liệu composite với hình dạng theo ý muốn, không cần phải luyện, tôi, phay, tiện… như với các sản phẩm kim loại khác.
Composite rất nhẹ, chỉ bằng 40% so với nhôm nếu cùng thể tích. Nhờ ưu điểm này, gần đây, vật liệu
composite đã được sử dụng để thay thế kim loại trong các sản phẩm của ngành cơ khí, chế tạo máy, đóng xuồng... Người ta có thể phủ lên mặt composite một lớp nhũ có ánh kim để tạo cảm giác giống kim loại.
Ứng dụng rộng rãi trong sản xuất công nghiệp xây dựng với các sản phẩm đã được chế tạo từ vật liệu composite:
 
Composite ứng dụng sản xuất vỏ thân máy bay
Vỏ động cơ tên lửa
Vỏ tên lửa, máy bay, tàu vũ trụ
Bình chịu áp lực cao.
Ống dẫn xăng dầu composite cao cấp 3 lớp (Sử dụng công nghệ cuốn ướt của Nga và các tiêu chuấn sản xuất ống dẫn xăng, dầu).
Ống dẫn nước sạch, nước thô, nước nguồn composite (hay còn gọi là ống nhựa cốt sợi thủy tinh);
Ống dẫn nước thải, dẫn hóa chất composite;
Ống thủy nông, ống dẫn nước nguồn qua vùng nước ngậm mặn, nhiễm phèn;
Vỏ bọc các loại bồn bể, thùng chứa hàng, mặt bàn ghế, trang trí nội thất, tấm panell composite;

song chắn rác composite

Hệ thống ống thoát rác như nắp hố ga, song chắn rác composite;
Hệ thống sứ cách điện, sứ polymer, sứ cilicon, sứ epoxy các loại sứ chuỗi, sứ đỡ, sứ cầu giao, sứ trong các
bộ thiết bị điện, chống sét, cầu chì;
Lốp xe ô tô, xe máy, xe đạp;
Vỏ tàu thuyền composite (vỏ lãi).....
Thùng rác công cộng
Qua bài viết trên các bạn cũng phần nào thấy được vật liệu composite là gì? tầm quan trọng của vật liệu nhựa composite ứng dụng trong sản xuất công nghiệp và xây dựng như thế nào? Hi vọng có thể giúp được các bạn hiểu thêm về vật liệu nhựa composite.
Các bạn có thể tìm hiểu thêm về sản phẩm ống Composite để thuận lợi cho việc kinh doanh của mình .

Thứ Năm, 30 tháng 6, 2016

Ống Composite

 Ống composite (ống FRP) được chế tạo bằng phương pháp Filament Wound (quấn sợi) hoặc Hand-lay up (đắp tay) theo tiêu chuẩn quốc tế, bao gồm hệ thống ống cho các nhà máy hóa chất và hệ thống ống dẫn dầu. Nguyên lý chế tạo được áp dụng theo công nghệ Nhật Bản, chất lượng cao, độ bền cao, và đặc biệt là tập trung vào mức độ an toàn tuyệt đối 100% trong suốt quá trình sử dụng.
Nguyên vật liệu chính sử dụng cho sản phẩm này thuộc nhóm được chứng nhận đạt tiêu chuẩn quốc tế, đặc biệt là  nhựa vinylester chống ăn mòn.
Hệ thống ống composite là loại kháng hóa chất, bình thường được ứng dụng trong ngành hóa chất như Sodium Hypochlorite, Các nhà máy sản xuất phân bón, Alkali, Ứng dụng Phòng cháy chữa cháy...


Chống Ăn Mòn:
Tuổi thọ thiết bị ống FRP/GRP cao bởi vì nó không bị ăn mòn cả bên trong lẫn bên ngoài, nếu như nhựa được dùng đúng quy cách theo điều kiện hoạt động bình thường và  bên ngoài được hổ trợ phù hợp, thì thời gian sử dụng sản phẩm có thể lên đến 15-20 năm.
Ống FRP phù hợp cho hóa chất từ có nồng độ từ yếu đến mạnh, từ hóa chất alkaline đến nước muối và dung môi

Trọng lượng:
Trọng lượng của Ống Composite FRP nhẹ hơn ống thép hoặc ống bê-tông, nên dễ vận chuyển, dễ lắp ráp, dẫn đến giảm chi phí lắp đặt đường ống.
Hệ thống này có sức bền vượt trội đối với đặc tính về trọng lượng. Nếu xét tỉ lệ sức bền trên một đơn vị trọng lượng, thìống composite GRP/FRP hơn hẳn sắt, carbon, thép như số liệu trong bảng dưới đây:
Vật liệu
Tỷ trọng (g/cm³)
Độ bền kéo (Mpa)
GRP/FRP
1.8
1400
Sắt
7.6
420
Thép
7.83
1034

Đặc tính làm chậm cháy
Ống FRP có thể được sản xuất đặc biệt với tính năng chậm cháy cho  ứng dụng chống cháy.
Những ngành công nghiệp có thể dùng ống FRP/GRP được làm từ nhựa chậm cháy để làm giảm khả ngăng tự bắt lửa của chúng tại cùng thời điểm đạt được áp suất hệ thống thiết lập mà không sợ rò rĩ do ăn mòn-hiện tượng thường xảy ra ở những ống thép mềm.

Phương pháp sản xuất
1. Hand-lay up ( đắp tay)
- Nhựa nhiều bề mặt tiếp xúc, nên chống ăn mòn tốt hơn
- Phù hợp cho các ống có đường kính nhỏ và tỉ lệ PN thấp
- Có thể sản xuất được dễ cho đơn hàng số lượng nhỏ.
2. Phương pháp filament windling (Quấn)
- Sử dụng tốt cho ống có đường kính lớn, và tỉ lệ PN cao
- Tiết kiệm chi phí hơn so với phương pháp hand-lay up
Phương pháp ghép nối ống
1. Đối với ống FRP/GRP hoàn chỉnh
- Phương pháp nối tấm đối đầu
- Gắn mặt bích cố định
- Nối giảm  mặt bích
2. Đối với ống nhựa dẻo hoàn chỉnh
- Nối đối đầu bằng máy đối xứng
- Hóa chất dung môi
- Hàn đối đầu bằng máy hoặc hàn tay và nối tấm đối đầu
3. Ống nhựa dẻo + Ống FRP/GRP
- Hàn đối đầu bằng máy hoặc hàn tay và và nối tấm đối đầu
- Hóa chất dung môi + FRP/FR
Tiêu chuẩn thiết kế dùng cho ống composite frp
- DIN
- ASME
- PS15-69

Những lỗi cơ bản khi sản xuất nhựa composite


Tổng hợp 1 số lỗi cơ bản khi sản xuất nhựa composite


   Trong quá trình gia công chế tạo vật liệu composite chúng ta hay gặp các hiện tượng nứt mai rùa, có lỗ khí, lỗ ngót, sợi thuỷ tinh bị khô không ngấm thấu hết, phân từng, cháy quá,… Đây là những hiện tượng không mong muốn, vì nó làm giảm đặc tính cơ – lý – hoá của sản phẩm nên cần phải khắc phục và hạn chế các hiện tượng này.
   
Hiện tượng nứt mai rùa là hiện tượng nền vật liệu có các vết nứt phân vùng giống mai con rùa. Đây là kết quả của quá trình đóng rắn xảy ra quá nhanh, hàm lượng xúc tác và hoá cứng quá nhiều, hàm lượng nhựa so với sợi cốt quá lớn và chiều dày gia công quá dày nhưng ta lại gia công cùng một lần. Vì vậy khi gia công những chi tiết, sản phẩm có chiều dày lớn thì ta phải gia công từng lớn, từng phầm, điều chỉnh thời gian hoá cứng bằng các điều chỉnh hàm lượng xúc tác, hoá cứng theo tay nghề người thợ và phải nằm trong phạm vi cho phép.
   
Hiện tượng có lỗ khí, lỗ ngót là hiện tượng có các túi khí có thể nhìn bằng mắt thường trong nền nhựa. Đây là hiện tượng hay gặp nhất và có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến hiện tượng này như: Do tính chất của nhựa nền khi đóng rắn có chất khí thoát ra, do trong quá trình gia công không đuổi hết khí ra,… Để khắc phục hạn chế hiện tượng này ta cần phải đuổi hết khí giữa các lớp ra bằng dùng thanh gạt, rulơ để gạt, ép… vừa gạt lượng nhựa thừa lại đuổi hết bọt khi ra ngoài. Khi gia công không thể khắc phục triệt để bằng công nghệ thì ta cho thêm vào nhựa nền một ít bột đá, bột đá sẽ hút lượng khí còn trong nhựa nền, khí thoát ra khi đóng rắn, phương pháp này rất hay được sử dụng vì rất kinh tế.


  
 Sợi thuỷ tinh khô là hiện tượng  sợi thuỷ tinh không ngấm thấu nhựa nền. Do độ nhớt nhựa nền cao, thời gian sợi chạy qua nhựa quá nhanh,… Vì vậy ta phải chú ý đến độ nhớt, thời gian ngấm thấu của sợi cốt để đưa ra quyết định xử lý phù hợp.
   
Hiện tượng phân từng, có u nhựa là hiện tượng nền nhựa có các đường phân lớp u nhựa hay nền có các lớp phân tách, cục nhựa rõ ràng. Do phối màu giữa các lớp không đều, khi gia công lớp sau không xử lý nhẵn bề mặt lớp trước, không loại bỏ các cuc nhựa còn dính, sót lại mà cứ gia công tiếp lớp sau. Vậy khi gia công tiếp ta cần phải tuân thủ các quy trình – quy phạm kỹ thuật của quá trình sản xuất vật liệu Composite.
   Ngoài những hiện tượng tôi đã đề cập trên ta còn gặp hiện tượng cháy quá, màu sắc không đồng đều, sợi cốt bị đứt, hàm lượng nhựa nền so vời cốt quá cao,…

Tìm hiểu về dịch thuật

Dịch thuật là một ngành nghề đòi hỏi tính chuyên môn cao, dịch thuật đôi khi còn khó khăn hơn nhiều so với viết văn bản gốc hay sáng tác. Lý do dễ thấy là muốn trở thành dịch giả, người dịch không những phải nắm vững ngoại ngữ, mà còn phải có vốn kiến thức văn hoá rộng lớn cùng sự tinh tế cá nhân, và phải thông thạo tiếng mẹ đẻ, đồng thời dịch thuật cũng đòi hỏi tính sáng tạo. Công việc dịch thuật có thể chia làm ba cấp độ, và tương ứng với ba cấp độ ấy, dịch giả đồng thời phải là nhà ngôn ngữ, nhà văn hoá và nhà tâm lý.
·         Cấp độ thứ nhất mang tính ngôn ngữ: Để hiểu một ngôn ngữ thì người dịch phải nắm rõ ngữ nghĩa của các đơn vị ngôn ngữ cùng các mối liên hệ của chúng trong một hệ thống nhất định. Người dịch phải hiểu không những một, mà là hai ngôn ngữ. Không chỉ dừng lại ở đó, người dịch phải có khả năng so sánh, đối chiếu hai hệ thống ngôn ngữ để tìm cách diễn đạt bài dịch đúng với ngôn ngữ gốc.
·         Cấp độ thứ hai mang tính văn hoá: Để hiểu được văn bản người dịch còn phải am hiểu sâu sắc về văn hoá và các thuật ngữ chuyên môn, từ lóng trong văn hóa của ngôn ngữ gốc.
·         Cấp độ thứ ba là cấp độ tâm lý: Đây là một cấp độ tinh tế và phức tạp. Trên thực tế, ngay cả khi đã tinh thông ngôn ngữ và có vốn văn hoá sâu rộng, người dịch còn phải phán đoán và lường trước được những phản ứng tâm lý của người đọc khi đọc bài dịch của mình, để gợi lên ở họ những xúc cảm thẩm mỹ mong muốn, hay ít nhất để tránh những hiểu lầm từ người đọc.


Từ những yêu cầu khắc khe về nghề dịch thuật nói trên Dịch thuật Bantayso luôn chú trọng đến việc tuyển chọn và đào tạo đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp, và chuẩn hóa theo từng lĩnh vực để không ngừng phát triển và nâng cao dịch vụ dịch thuật, mang đến cho khách hàng một dịch vụ hoàn hảo nhất.

Công ty chúng tôi đã có nhiều năm kinh nghiệm dịch thuật cho nhiều lĩnh vực về:   Tài chính - Ngân hàng, định cư, du lịch, du học, Văn học, Giáo dục, Kinh tế, Chính trị, khoa học kỹ thuậthồ sơ thầu dự án,  Y học, Dược phẩm, Pháp luật, Thủy điện, Khoáng sản, Hàng hải, Vận tải, Ô tô, Dầu khí, Môi trường, Nông - Lâm nghiệp, Thực phẩm, và nhiều chuyên ngành khác...